vietnamese Tiếng Việt english English Giới Thiệu
Hôm nay:
Tin mới đăng:

Trong giờ sinh học, thầy giáo đang giảng bài thì có hứng và ra 1 vế đối : “Con bò cạp cạp con bò cạp, cạp đúng chỗ bò mà bò đúng chỗ cạp”. Một học sinh ấp úng, thầy mời đứng dậy, cậu học trò đối : “Thầy sinh vật vật cô sinh vật, vật đúng chỗ sinh mà sinh đúng chỗ vật”. Một học trò khác : “Anh tiểu thương thương chị tiểu thương, thương đúng chỗ tiểu mà tiểu đúng chỗ thương” Anh học trò khác thêm vào chút xíu: "Anh cà phê cà chị cà phê, cà đúng chỗ phê mà phê đúng chỗ cà “


Giải Trí,Truyện Cười

Có những lúc tôi buồn muốn khóc, 
Sao lệ buồn chảy ngược vào trong ?
Nam nhi sống ở trên đời, 
Ai cũng mong được xưng cô xưng quả ?
Dẫu hậu cung trăm ngàn mỹ nữ,
Vẫn Không một bóng tri âm tri kỷ
Lệ quân vương khóc thầm ai biết ?
Chốn vàng son cô độc một anh tài !

Thơ,Văn Học Nghệ Thuật

Sau đây là những đoạn hội thoại được ghi chép tại tòa án, chính xác đến từng chữ.

Hỏi: Loại thuốc này có ảnh hưởng đến trí nhớ của bà không?

Đáp: Có.

Hỏi: Ảnh hưởng như thế nào?

Đáp: Nó làm tôi trở nên hay quên.

Hỏi: Bà quên những gì? Hãy kể ra một trường hợp!

------ * * * ------

Hỏi: Hãy cho biết ngày sinh của bà!

Đáp: Ngày 30 tháng 12

Hỏi: Năm nào?

Đáp: Năm nào cũng vậy.

------ * * * ------

Hỏi: Người con trai sống với ông năm nay bao nhiêu tuổi?

Đáp: Tôi không nhớ rõ. Khoảng 38 hoặc 35 gì đó.

Hỏi: Anh ta sống chung với ông bao nhiêu năm rồi?

Đáp: 45 năm.

------ * * * ------

Hỏi: Tai nạn xảy ra ở đâu?

Đáp: Gần cây số 499.

Hỏi: Thế cây số 499 ở đâu?

Đáp: Ở giữa cây số 498 và cây số 500.

------ * * * ------

Hỏi: Hãy cho tòa biết câu đầu tiên chồng cô nói với cô khi thức giấc, buổi sáng hôm xảy ra án mạng? 

Đáp: Anh ấy hỏi: "Anh đang ở đâu thế này, Cathy?"

Hỏi: Tại sao điều đó lại làm cô nổi giận?

Đáp: Tên tôi là Susan.

------ * * * ------ 

Hỏi: Sĩ quan cảnh sát hãy cho tòa biết, khi anh dừng xe của người phạm luật, anh có nháy đèn xanh đỏ không?

Đáp: Có

Hỏi: Cô ta nói gì khi ra khỏi xe?

Đáp: Cô ta nói: "Tôi đang ở sàn nhảy nào thế này?".

------ * * * ------

Hỏi: Ông có mặt ở đó khi người ta chụp ảnh ông không?

------ * * * ------

Hỏi: Thế nghĩa là, thời điểm đứa bé thụ thai là ngày 8 tháng 8?

Đáp: Vâng.

Hỏi: Cô làm gì vào lúc đó?

------ * * * ------

Hỏi: Cô ta có 3 đứa con, phải không?

Đáp: Vâng.

Hỏi: Trong đó, có bao nhiêu bé trai?

Đáp: Không ai cả.

Hỏi: Thế có bé gái nào không?

------ * * * ------

Hỏi: Ông nói rằng chiếc cầu thang đó dẫn xuống tầng hầm?

Đáp: Vâng.

Hỏi: Và nó cũng dẫn lên trên nữa chứ?

------ * * * ------

Hỏi: Hãy tả lại nhân dạng của người đó.

Đáp: Anh ta là một người tầm thước và để râu.

Hỏi: Người đó là đàn ông hay phụ nữ?

------ * * * ------

Hỏi: Bác sĩ pháp y! Hãy cho biết, ông đã tiến hành khám nghiệm tử thi trên bao nhiêu xác chết rồi?

Đáp: Tất cả những ca khám nghiệm tôi đều thực hiện trên xác chết.

Giải Trí,Truyện Cười

Cu Tý là thủ lĩnh đám bạn nhóc tỳ, tính rất ưa suy gẫm. Ngày nọ, Tý và đám bạn đi đến làng nọ nô đùa, phát hiện ven đường có một cây khế. Trên cây trái chín đầy cành, xum xuê mọng nước chiếu sắc vàng óng. Lũ trẻ vừa nhìn thấy, xúm nhau chỉ chỏ kêu to, cuống quýt chạy quanh cây, chỉ có cu Tý đứng im, vẻ trầm ngâm, không chút tranh giành.

Đám nhóc tranh nhau trèo lên cây, Tèo thấy cu Tý cứ đứng ỳ ra, vội thúc: Mau trèo lên cây hái trái đi chứ! Sao đứng im như phỗng vậy? Chậm chạp quá thì không xơi được trái nào đâu nghen!

Tý lắc đầu:
- Không thèm! Cây khế này vừa chua vừa khó nuốt!
- Lũ nhóc hí hửng hái trái bỏ vào miệng nhai nhưng lập tức phun ra hết và kêu oai oái cùng nhăn nhó chùi miệng.

Khế đúng là chua lè, không những chua mà còn chát. Lúc này chúng mới ngẩn người, hỏi cu Tý:
- Sao mày tài thế? Chưa ăn mà đã biết là khế không ngon?
- Tý cười:
- Có gì khó hiểu đâu? Trái to xum xuê trĩu cành, nằm lồ lộ trên cây ven đường, trông hấp dẫn vậy mà còn nguyên, tức là không ai dám động đến, mà không người động đến thì là khó nuốt chứ sao!

(Theo Truyện cổ Việt Nam)
Đời là bể khổ, tình là dây oan. vậy tại sao ta lại...cố tình nếm và thử trái khế vừa chua vừa chát đó rồi mới nhận ra ?

Truyện Ngắn,Văn Học Nghệ Thuật

Kẹo, ơi kẹo có biết chăng
Ăn xong đi ngủ, sún răng mất rồi...
Kẹo cười: tại bạn đấy thôi
Chứ không phải lỗi tại tôi ngọt ngào.

Thơ,Văn Học Nghệ Thuật

Hơn một năm nay học lớp sau đại học ở Hà Nội, hầu như tháng nào tôi cũng về Vinh thăm nhà. Vậy mà lần này do bận chuyện bảo vệ luận văn, tôi xa vợ con đã hơn hai tháng. Ngồi trên chuyến tàu đêm tôi đếm từng khắc từng giây, chỉ mong tàu về đúng 5 giờ sáng theo lịch. Tôi sẽ đi xe ôm về mất 15 phút nữa. Sau đó tự mở cửa, rón rén đi qua phòng ngoài, nơi thằng con trai 8 tuổi đang ngủ. Tôi sẽ chui vào chăn, ôm chầm lấy tấm thân nóng bỏng của vợ…Chao ôi, mới biết thời gian trôi lâu vì sự chờ đợi!

Rồi tàu cũng về đúng giờ. Trả tiền xe ôm xong, tôi lao lên tầng 4. Nhưng cửa nhà tôi lại khoá. Tôi như quả bóng xì hơi. Thôi thì phải xuống bà ngoại vậy, chắc là ngày nghỉ mẹ con về đó. Dù không đạt được như kế hoạch của mình thì hi vọng tiếp tục ôm nàng trong chăn vẫn còn. Tôi lại vội vàng bắt xe ôm đi tiếp.

- Con về đấy à? Sao không liên lạc gì với nhau? Vợ con lại ra thăm con vào chuyến xe tốc hành sớm nhất sáng nay rồi. Mẹ vừa đưa nó ra bến xe về. - Mẹ vợ tôi đang quét sân dội tiếp nước lạnh vào tôi.

Thật là hết chỗ nói. Vậy là để dành cho nàng sự bất ngờ, tôi đã không báo trước. Hậu quả là thế này đây. Mà nàng cũng muốn dành sự bất ngờ cho tôi? Ôi vợ yêu của anh – dù chán nản tôi vẫn thầm kêu tên nàng kiêu hãnh.

Lại vội vàng ra đường. Tôi vớ ngay được tắc xi đuổi theo. Dù dục tài xế phóng nhanh, phải mất gần trăm cây số thì chiếc xe đi Hà Nội biển số 31-32 mới hiện ra. Kia rồi, vợ tôi mặc áo màu tím ngồi ngay sau ghế lái xe ngay cạnh cửa sổ. Tôi giục lái xe nháy đèn báo hiệu vẫy cho xe khách dừng lại. Xe tôi vượt lên. Tất cả hành khách trong xe đều hiếu kì nhìn ra…

Tôi nở nụ cười rạng rỡ. Nhưng mặt tôi vội méo xệch – ló ra từ cửa sổ xe là gương mặt thằng người yêu cũ của vợ tôi. Hắn ngồi cạnh nàng.

Giải Trí,Truyện Cười


Tháng 6 năm 1950, nhân chuyến công tác nhà văn Sơn Tùng may mắn được cụ Nguyễn Sinh Khiêm - anh ruột Bác Hồ rút trong cặp quyển “ Tất Đạt tự ngôn” tặng nhà văn. Sau đó ít tháng, cụ Khiêm qua đời. Trong cuốn sách cụ tặng có ghi ba bài thơ về thời niên thiếu của Bác Hồ.
Sơn Tùng kể : “ Ba bài thơ này hấp dẫn tôi. Thời đó tôi là một thanh niên học sinh đi hoạt động “ Đoàn thanh niên cứu quốc”. Cụ đưa cho tôi đọc. Bài thơ hay quá. Thấy tôi ngỡ ngàng không tin, cụ bảo:
- Cháu là người có tấm lòng muốn tìm hiểu gia đình bác thì bác đưa cho cháu tập ghi chép này, thấy có ích thì cháu dùng, bằng không thì đốt đi đừng giao nó cho ai vì trong này, bác ghi nhiều cái không tiện nói ra.
Mở tập sách, tôi thấy ba bài thơ đó là: trên đèo Ngang hai bài sáng tác năm 1895, còn bài “ Ba ông phỗng” sáng tác năm 1903. Theo lời kể cụ cả Khiêm thì năm 1895, gia đình cụ quyết định vào Huế không phải là làm ăn sinh sống mà muốn cho anh em cụ vào đó để học- cha cụ vào đó để làm bạn với các nhà khoa bảng ở kinh đô. Các ông quan thời đó đều là tiến sĩ, hoàng giáp ít ra là cử nhân. Đúng là ông vào Huế để tạo ra được một chiếu văn. Các ông quan trong triều thường đến bình văn, bình thơ cùng các cụ đồ ở kinh đô.
Chuyến đi vào Huế năm đó hết sức vất vả. Mọi người phải đi bằng dép mo cau, một lúc rách là thay đôi khác. Bé Tất Thành lúc đó mới năm tuổi được bố cõng trên lưng. Trên cao, bé quan sát hỏi hết chuyện này đến chuyện khác còn Nguyễn Sinh Khiêm chẳng thấy vui bởi chân bị rộp. Đến đoạn đường bằng, bé Thành chạy tung tăng hỏi nhiều thứ.
Lúc đến chân Đèo Ngang, đường sát biển hơn không như bây giờ. Đến chân đèo có bãi cỏ bằng phẳng, bà Loan đặt gánh xuống, cụ Sắc xếp ô lại bảo:
- Hãy nghỉ lại ăn cơm rồi vượt đèo.
Bé Thành hỏi cha:
- Thưa cha, cái gì mà lại ngoằn nghoèo như rứa?
Cụ Sắc giải thích: - Đó là con đường mòn vắt qua đèo, tý nữa ta phải đi qua đó. Bé Thành ứng khẩu đọc bài thơ. Sau này cụ Khiêm ghi lại trong “ Tất Đạt tự ngôn”. Bài thơ như sau:
Núi cõng con đường mòn
Cha thì cõng theo con
Núi nằm ì một chỗ
Cha đi cúi lom khom
Đường bám lì lưng núi
Con tập chạy lon ton
Cha siêng hơn hòn núi
Con đường lười hơn con
Trong bài thơ này, cái gì thuộc về thiên nhiên là tĩnh, cái gì thuộc về con người là động. “ Núi cõng con đường mòn”, “ Đường bám lì lưng núi” là tĩnh. “ Cha thì cõng theo con” , “ Con tập chạy lon ton” là động. Thơ hay bởi cái thần. Lời ngộ nghĩnh của đứa bé điều đó dễ hiểu. Đó là vấn đề tư tưởng, tầm nhìn này hơi khác lạ.
Trở lại câu chuyện về chuyến đi. Anh cả Khiêm thì rộp chân, nhăn nhó còn bé Thành thì chạy nhảy, hỏi cha nhiều chuyện.
- Cái gì kia sao lại rộng thế tựa như chiếc ao lớn hở cha?
Cụ Sắc giải thích:
- Không phải là ao đâu con ạ! Đó là biển đấy!
Lúc đó đứng trên Đèo Ngang là nhìn thấy biển. ở đây đi xuống là đến Ròn - tức Cảnh Dương của Quảng Bình. Lần đầu tiên thấy biển bé Thành cứ tưởng là ao. Cụ Sắc nhắc lại là biển. Bé Thành lại hỏi:
- Cha ơi, tại sao bò lại lội trên biển?
- Không phải bò đâu con, đó là cánh buồm nâu nhờ gió đẩy nên thuyền mới chạy được trên biển đấy!
Bé Thành ứng khẩu đọc bài thơ thứ hai:
Biển là ao lớn
Thuyền là con bò
Thuyền ăn no gió
Lội trên mặt nước
Em nhìn thấy trước
Anh trông thấy sau
Ta lớn mau mau
Vượt qua ao lớn
Cụ Khiêm tâm sự với Sơn Tùng:
- Cái lẽ thường tình anh phải nhìn thấy trước chứ vì anh ra đời trước khôn hơn. Nhưng đây lại nói: “ Em nhìn thấy trước, anh trông thấy sau”. Cái khẩu khí đó thật khác người nên sau này Tất Thành đi hết nơi này đến nơi khác năm châu bốn biển còn bác cứ yên vị sống trong nước như thế này.
Cụ Khiêm nói với nhà văn Sơn Tùng năm 1950. Mãi đến năm 1980 Sơn Tùng công bố hai bài thơ trên báo Văn Nghệ số Tết. Trước khi đăng, nhà văn Nguyễn Văn Bổng - tổng biên tập báo Văn nghệ tìm đến hỏi Sơn Tùng:
- Có chính xác không anh, mới năm tuổi mà làm hai bài thơ ứng khẩu, trẻ con thì thật trẻ con nhưng thật trí tuệ.
Sơn Tùng trả lời:
- Anh cứ đăng đi, có chi tôi chịu trách nhiệm
Đến khi báo ra người đến gặp nhà văn là cụ Khương Hữu Dụng - nhà thơ Đường luật. Thơ Đường cụ rất giỏi.
- Này Sơn Tùng, mình đọc hai bài thơ hay quá, mình nghi ông có thêm chữ nào vào đấy không?
- Chết, ai lại làm cái việc này!
Cụ lại nói:
- Đọc xong, mình sợ quá. Trần Đăng Khoa nó giỏi nhưng thời nay nó khác. Nó có thông tin báo chí , truyền thanh có hệ thống, thời ta không có. Thông minh như Trần Đăng Khoa tưởng tượng tàu dừa như chiếc lược chải lên trời, qua na chín là quả na mở mắt . Tầm tư tưởng của bé Thành lớn quá
Trở lại câu chuyện về bài thơ thứ ba của Nguyễn Tất Thành, theo lời kể của cụ cả Khiêm thì cụ Nguyễn Sinh Sắc ở xóm Du Đông gần dinh cụ Thượng- sau này gọi là cụ Quận, tức là quận công Hoàng Cao Khải ở ấp Thái Hà. Hoàn cảnh bài thơ thứ ba đều do cụ Lê Thước kể lại:
.... Hôm đến dinh Hoàng Cao Khải để ăn mừng khánh thành dinh quận công có mời các quan sở tại đầu tỉnh cho đến huyện. Trên cái sân lớn, ngoài có bồn hoa. Đám trẻ con cứ nhìn qua khe hở bức tường thấy các quan ngồi uống rượu, đọc bình thơ mừng quan xây xong dinh, đặc biệt có cái bể cạn rất lớn trong đó có núi non bộ rất cao, cây si đến hàng trăm tuổi, có tượng ba ông lão nho nhỏ. Nghe các quan đọc thơ, đám học trò đứng ngoài nói to:
-Các quan làm thơ dở quá!
Nghe thế, Hoàng Trọng Phu ( con cả Hoàng Cao Khải) ra quát lủ trẻ,. Một số bỏ chạy. Nguyễn Tất Thành (13 tuổi) chạy nhưng chậm thôi. Lúc đó Hoàng Cao Khải mới can:
_ Thôi, đừng nạt các cháu, nhà mình đang có chuyện vui lớn. Các cháu đến mà đuổi đi thì dân làng người ta cười cho. Cháu nào khi nãy chê thơ bây giờ vào làm bài thơ ông thưởng.
Đám trẻ quay lại. Ông Khải nói tiếp:
- Đứa nào khi nãy chê thơ các quan bây giờ vào đọc thơ dù có dở ông cũng thưởng.
Các quan thấy đám trẻ cùng chạy ra. Nguyễn Tất Thành nhìn thấy tượng ba ông phỗng ở trên núi non bộ liền nói:
- Thưa cụ, cháu đọc bài thơ ứng khẩu này nếu có sai thì cũng đừng phạt cháu.
Ông Khải nói:
- Cháu cứ đọc đi, ông không phạt đâu. - Tất Thành đọc:
Kìa ba ông lão bé con con
Mọi người cười. “ Ba ông lão lại bé con con”, thế mới ngộ nghĩnh.
Biết có tình gì với nước non
Các quan cũng chưa thấy gì cả thì hai câu sau nghe xong không ai nói với ai, tất cả đều im lặng.
Trương mắt làm chi ngồi đó mãi
Hỏi xem non nước mất hay còn?
Hoàng Trọng Phu nói: “ Thằng này hỗn, con nhà ai đấy?” Nguyễn Tất Thành không trả lời. Lê Thước mới nói: “ đây là con cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc bên Nghệ An đấy!” Hoàng Cao Khải năm đó đỗ cử nhân mà đỗ vớt. Còn Nguyễn Sinh Sắc đỗ đại khoa cùng với Ngô Đức Kế. Hoàng Cao khải mới khen: “ Hỗ phụ sinh hỗ tử” rồi chống gậy đi vào. Còn Hoàng Trọng Phu mặt hầm hầm: “ Cái tay này mà lớn lên sẽ làm loạn”.
Chuyện này, cụ Khiêm kể lại cho Sơn Tùng. Sau ngày giải phóng miền Bắc (1957),Sơn Tùng tìm gặp cụ Lê Thước , cụ Phạm Gia Cẩn để đối chiếu.
Khi có bài thơ thứ ba trong tay, nhà văn thấy hơi hướng tài thơ của cụ Tam Nguyên Yên Đỗ. Khi đó, Sơn Tùng công tác ở đại học nhân dân liền đem trao đổi với các thầy. Thời bấy giờ, người nghiên cứu thơ Nguyễn Khuyến là Xuân Diệu. Sơn Tùng đến hỏi Xuân Diệu, nhà thơ cho biết:
- Cụ Nguyễn Khuyến có bài thơ vịnh ba ông phỗng nhưng hoàn toàn khác. Cụ từng đỗ tam nguyên nhưng bất hợp tác với thực dân Pháp. Cụ chỉ nhận làm án sát Sơn Tây mấy năm rồi về nhưng sợ mang tiếng bất hợp tác nên phải nhận làm gia sư cho gia đình Hoàng Cao Khải ở ấp Thái Hà. Hoàng Cao Khải cũng muốn mời ông Tam Nguyên về dạy học cho gia đình mình thì cũng sang. Cụ ở trong nhà ấy một thời gian thì cũng yên tâm, sau đó về đất Bình Lục( Hà Nam) của mình cũng đỡ bị theo dõi. Bấy giờ, Hoàng Cao Khải muốn có bài thơ tức cảnh của cụ Nguyễn Khuyến để làm kỉ niệm cũng là cái sang được cụ Tam Nguyên tặng thơ:
Ông đứng làm chi đó hỡi ông
Trơ trơ như đá vững như đồng
Đêm ngày gìn giữ cho ai vậy
Non nước đầy vơi có biết không?
Cũng bốn câu, cũng ba ông phỗng, vì cái núi non bộ ngoài này với trong kia cùng một mẫu hình làm ra.
Sau khi đối chiếu hai bài thơ đó thì thấy được sự khác nhau của hai con người. Cụ Tam Nguyên có cái nỗi đau mất nước nhưng đành chịu bất lực “Trơ trơ như đá vững như đồng”. - Cái thế lực thực dân lúc đó như cái trụ đá cao lớn trước sự tồn tại, sự bền vững xây trước dinh Hoàng Cao Khải. Còn Nguyễn Tất Thành thì đặt:
Kìa ba ông lão bé con con
Biết có tình gì với nước non
Trương mắt làm chi ngồi đó mãi
Hỏi xem non nước mất hay còn?
Là rất khác, nó có khí thế “ Trương mắt làm chi ngồi đó mãi. Hỏi xem non nước mất hay còn”
Ba bài thơ ứng khẩu của Bác Hồ thời niên thiếu sáng tác trong hai hoàn cảnh khác nhau đều có chung một khẩu khí, một nhân cách mà hiếm người có được. Sau này, Bác ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân tộc ra khỏi ách nô lệ là đã ( vượt qua ao lớn) để mang lại độc lập tự do cho dân tộc. Phải chăng tầm tư tưởng đó khởi nguồn từ ba bài thơ nói trên của người.
Nguyễn Thanh Hiển
( Sưu tầm và giới thiệu)

Giải Mã,Kho Tri Thức


Một diễn viên nổi tiếng đang đi trên tàu hỏa bị hai phụ nữ có tuổi nhận ra và bị họ quấy rầy bằng đủ thứ chuyện tào lao. Người diễn viên không biết làm cách nào chấm dứt được những cuộc chuyện trò thao thao ngán ngẩm của họ.

Lát sau đoàn tàu chui vào đường hầm, nhưng đèn trong tàu không bật. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, người diễn viên áp lưng bàn tay lên miệng hôn một cái thật kêu. Khi đoàn tàu ra ngoài trời sáng, cả hai người phụ nữ nhìn nhau trong im lặng lạnh lùng.h lùng.

Trào Phúng,Văn Học Nghệ Thuật